NNVN & Bạn đọc

Vì sao liệt sĩ Vũ Hữu Phi mất mộ ngay tại nghĩa trang liệt sĩ quê mình?

Cập nhật: 08:41, Thứ 5, 12/10/2017

Cụ Vũ Hữu Phi quê ở làng Hống (xã Thụy Ninh, huyện Thụy Anh, nay là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình). Kháng chiến chống Pháp, cụ là tiểu đội phó du kích thuộc trung đội du kích xã Thụy Ninh.

Năm 1951, trong một trận chống càn, cụ Vũ Hữu Phi hy sinh tại thôn Me thuộc xã Thụy Ninh, được tặng bằng “Tổ quốc ghi công” và được công nhận là liệt sỹ (LS).

Ông Vũ Văn Ruy, con trai LS Vũ Hữu Phi

Lúc mới hy sinh, thi hài LS Vũ Hữu Phi được gia đình và đồng đội an táng tại cánh đồng làng Bùi cùng xã rồi sau cải táng về cánh đồng Vườn Sọi thôn Hống. Năm 1958, hài cốt LS Vũ Hữu Phi được đưa vào nghĩa trang liệt sỹ (NTLS) ba xã Thụy Ninh- Thụy Dân- Thụy Chính, đặt tại xã Thụy Ninh.

Khi hy sinh, LS Vũ Hữu Phi có 2 con, một trai một gái. Khi lớn lên, người con trai tham gia bộ đội chống Mỹ, còn người con gái cũng tham gia lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Ông Vũ Văn Ruy, sinh năm 1944, con trai LS Vũ Hữu Phi, kể lại:

-Năm 1958, khi đưa hài cốt bố tôi vào NTLS 3 xã Ninh- Dân- Chính, tôi đã 14 tuổi, nên cũng tham gia công việc đó. Tại NTLS, ngôi mộ bố tôi được đặt phía sau ngôi mộ của LS Vũ Hữu Cư, người thôn Đoài. LS Vũ Hữu Cư là xã đội trưởng xã Thụy Ninh thời chống Pháp, hy sinh ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng). Nếu tính theo hàng, thì ngôi mộ LS Vũ Hữu Cư là số I, còn mộ bố tôi là số II.

Sau này, khi LS Đỗ Văn Thuật (hy sinh thời chống Mỹ) được đưa từ một tỉnh phía Nam về NTLS xã nhà, chôn phía trên mộ LS Vũ Hữu Cư, thì ngôi mộ LS Vũ Hữu Cư trở thành ngôi số II, còn mộ bố tôi là số III, và theo cách đánh số mới của UBND xã Thụy Ninh hiện nay, thì ngôi mộ LS Đỗ Văn Thuật mang số 32, mộ LS Vũ Hữu Cư số 33, còn mộ bố tôi mang số 34.

Khi an táng bố tôi tại nghĩa trang, ông nội tôi (thân sinh LS Vũ Hữu Phi) là cụ Vũ Hữu Thiện đã dùng đục thợ mộc đục vào một viên gạch 4 chữ “Vũ Tộc, Hữu Phi” rồi chôn viên gạch đó xuống khoảng đất trống giữa hai ngôi mộ bố tôi và mộ LS Vũ Hữu Cư, cách đầu ngôi mộ bố tôi khoảng 30 cm, để đánh dấu. Bố tôi bị một viên đạn của lính Pháp bắn vào trán, nên xương trán có một lỗ thủng. Viên đạn xuyên từ trán ra sau gáy, nên xương gáy cũng bị thủng. Chiếc tiểu đựng hài cốt bố tôi được gia đình tôi đậy bằng hai hàng gạch, loại gạch xây bình thường. Lúc đó, NTLS mới được xây dựng, nên rất sơ sài, tường bao chưa có, lại nằm giữa cánh đồng, nên người dân cứ tự do thả trâu bò vào cho gặm cỏ.

Năm 1971, ông Vũ Văn Ruy phục viên, về quê lấy vợ. Do điều kiện kinh tế khó khăn, ông thường phải lang bạt nhiều nơi kiếm sống. Năm 1990, UBND xã Thụy Ninh tiến hành nâng cấp NTLS, lúc đó ông Ruy đang làm ăn ở trên Sơn La. Khi về thì việc nâng cấp NTLS đã xong. Ra mộ bố mình ở NTLS thắp hương, ông sững sờ khi thấy mộ bố mình bỗng được gắn tên LS Nguyễn Duy Quỳnh. LS Nguyễn Duy Quỳnh là người thôn Bùi cùng xã, cũng hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Từ đó, 3 người con của LS Nguyễn Duy Quỳnh là Nguyễn Thị Bằng, Nguyễn Duy Bội và Nguyễn Duy Canh đều tin và nhận ngôi mộ LS Vũ Hữu Phi là mộ bố mình, kiên quyết không cho ai đụng đến, còn mộ LS Vũ Hữu Phi thì... biến mất.

Ngày giỗ, ngày Tết, con cháu LS Vũ Hữu Phi đến ngôi mộ đó thắp hương, đều bị nhổ vứt đi. Ông Vũ Văn Ruy kể tiếp: Ngay khi đó, tôi đã có đơn lên UBND xã, khẳng định là UBND xã đã nhầm lẫn trong việc gắn tên các LS trong quá trình nâng cấp nghĩa trang. Đề nghị UBND xã điều chỉnh lại, gắn trả tên bố tôi lên ngôi mộ đã gắn tên LS Nguyễn Duy Quỳnh đó, nhưng UBND xã phớt lờ.

Tiếp theo, tôi còn có hàng chục lá đơn khác, qua mấy đời chủ tịch xã, cũng với mục đích như vậy. Nhưng không những UBND xã không giải quyết, mà còn ra văn bản cho rằng: “Trong NTLS 3 xã Thụy Ninh- Thụy Dân- Thụy Chính, đặt tại xã Thụy Ninh, không có mộ LS Vũ Hữu Phi”. Ngay cả khi tôi đã đào được viên gạch do ông nội tôi khắc 4 chữ “Vũ Tộc, Hữu Phi” ở khoảng đất trống giữa ngôi mộ bố tôi (đã bị gắn tên LS Nguyễn Duy Quỳnh) và mộ LS Vũ Hữu Cư, như đã nói ở trên, đó là một bằng chứng rất quan trọng, rồi báo cho UBND xã biết.

Nhận được tin báo, ông Nguyễn Quốc Trị, phó chủ tịch UBND xã Thụy Ninh, đã đến nơi, lập biên bản ghi nhận sự việc, và mang viên gách đó về để tại UBND xã. Nhưng sau đó UBND xã Thụy Ninh vẫn không công nhận đó là một bằng chứng.

Mặt khác, theo ông Nguyễn Duy Canh, con trai của LS Nguyễn Duy Quỳnh, thì hài cốt của LS Nguyễn Duy Quỳnh được đưa vào NTLS năm 1960, trong khi hài cốt của bố tôi được đưa vào từ năm 1958. Mộ được chôn theo thứ tự thời gian. Người đưa vào sau không thể trèo lên trên người đưa vào trước được. Cứ theo cái lý đó, thì ngôi mộ LS Nguyễn Duy Quỳnh phải là ngôi mộ số 35 theo cách đánh số mới, nếu tính LS Đỗ Văn Thuật là số 32, LS Vũ Hữu Cư thứ 33, bố tôi thứ 34.

Do quá bức xúc vì việc ngôi mộ bố mình bị gắn nhầm tên, đơn từ nhiều năm không được giải quyết, có lần ông Vũ Văn Ruy đã cậy tấm bia ghi tên LS Nguyễn Duy Quỳnh gắn trên mộ bố mình tại NTLS xã Thụy Ninh, mang đặt lên kỳ đài NTLS.

Lập tức gia đình LS Nguyễn Duy Quỳnh có đơn tố cáo ông Vũ Hữu Ruy “xâm phạm mồ mả” gửi CA huyện Thái Thụy. Công an huyện đã có giấy triệu tập ông Vũ Văn Ruy lên, truy hỏi về hành vi đó. Nhưng sau khi nghe ông Ruy trình bày, công an huyện đã tỏ ra thông cảm, khuyên ông bình tĩnh, không nên manh động, và “nếu muốn tìm lại mộ thân sinh mình, thì phải làm theo trình tự và quy định của pháp luật”.

 

Thanh Vũ

Share Facebook Share Google Share Twitter

Bình luận

Gửi bình luận