Phóng sự

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 5 - Tranh luận về số người chết và nguyên nhân nạn đói

Cập nhật: 06:35, Thứ 6, 12/04/2019

Đây có lẽ là tranh luận không bao giờ có hồi kết bởi chứng cứ hiện tại không còn nhiều và nhân chứng phần lớn đã chết hoặc quá già, chỉ có những gì tiệm cận nhất với sự thật lịch sử mà thôi…

I. Tranh luận không bao giờ có hồi kết

Đi điều tra nhờ tiền di chúc của cha

Năm 1994, Giáo sư sử học Văn Tạo nhận được một bức thư của ông Furuta Motoo, Giáo sư trường Đại học Tokyo, Chủ tịch thường trực Hội Hữu nghị Việt – Nhật trong đó kể về khoản thừa kế theo di chúc của cha trước khi qua đời với mong muốn dành một phần để làm một cái gì có ích cho Việt Nam. Và Giáo sư đã muốn dùng khoản đó (10.000 USD) cho chương trình hợp tác khoa học của Hội Hữu nghị Việt – Nhật về đề tài “Quan hệ Việt – Nhật thời kỳ 1940-1945”, trọng tâm là nghiên cứu về nạn đói 1944-1945.

GS Furuta Motoo (ảnh tư liệu) và bức thư gửi cho giáo sư Vũ Tuyên Hoàng

Đoàn đã khai thác tư liệu từ nhiều nguồn và chủ yếu là khảo sát, điều tra thực địa trên 23 điểm thuộc 21 tỉnh, thành từ Quảng Trị trở ra với ba đợt năm 1992, 1993-1994, 1994-1995. Đã huy động nhân lực của hàng trăm nhà nghiên cứu ở trung ương và địa phương và hàng ngàn nhân chứng. Cuốn sách viết chung “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử” được hoàn tất sau đó.

Có nhiều nguyên nhân được lý giải: Chính sách thu mua thóc bắt buộc với giá rẻ, miền Bắc mất mùa, Nhật chặn gạo vận chuyển từ miền Nam ra để phục vụ cho chiến tranh, sự giả dối của chiến lược vùng thịnh vượng chung Đại Đông Á nhằm ăn cướp lương thực...

Hai tác giả cũng có những điểm khác biệt trong góc nhìn. Nếu GS Văn Tạo coi phát xít Nhật là nguyên nhân chính gây nên thảm kịch này và kịch liệt lên án thì GS Furuta Motoo lại đi sâu vào kỹ thuật hơn khi khảo sát diễn biến cụ thể của thảm họa, ở đâu khốc liệt nhất, tầng lớp nào chết nhiều nhất, sự mất nhân tính trong cơn đói thế nào…

Cổng của khu mồ tập thể Hợp Thiện ở Hà Nội
Tại 23 ngôi làng mà đoàn điều tra, tỷ lệ người chết đói tính trên tổng dân số năm 1945 được phân bố từ 8,37% của Nhượng Bạn tỉnh Cao Bằng đến 58,77% của Quần Mục TP Hải Phòng, có 6 làng tỷ lệ người bị chết đói hơn 40%.

Công trình đã chứng minh con số 300.000 người chết đói mà phía Nhật đưa ra khi đền bù chiến tranh cũng như con số 1 triệu người chết đói mà chính quyền miền Nam đưa ra hồi 1959 khi đòi Nhật bồi thường là chưa chính xác. Trang 19 phân tích: “Cuốn Lịch sử Hà Nam Ninh xuất bản năm 1988 đã ghi, phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) mỗi ngày chết 400 người.

Huyện Kim Sơn (Ninh Bình) cả vụ đói năm 1945 có 22.908 người chết đói…Con số người chết đói của tỉnh Hà Nam Ninh (bao gồm ba tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình) là Nam Định chết 212.218 người, Hà Nam chết 50.398 người, Ninh Bình chết 37.939 người.

Riêng tỉnh Thái Bình, nơi mà nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban Lịch sử tỉnh điều tra, nghiên cứu và tổng kết cho biết con số tương đối sát thực tế là: “Cả tỉnh chết đói mất 280.000 người”. Như vậy chỉ tính số người chết đói ở bốn tỉnh cũ kể trên đã lên tới 580.547 người thì con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ, tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà nội, Hải Phòng là gần với sự thật”.
 

Nhật từng đền bù chiến tranh cho Việt Nam

Ngay tại Nhật, những người thừa nhận nạn đói ở Việt Nam năm 1944-1945 là có thật vẫn còn băn khoăn về sự sai khác con số giữa các nguồn tài liệu, về các nguyên nhân gây nên.

Năm 1993, nhà nghiên cứu Saotome Katsumoto đã cho ra đời tại Nhật Bản cuốn sách “Ghi chép về 2 triệu người chết đói của Việt Nam” nhờ vào việc phỏng vấn nhân vật ở một số tỉnh thành như Thái Bình, Hải Phòng… và khảo sát nhiều tài liệu, báo chí tiếng Nhật. Tác giả cho biết khi nạn đói năm 1945 xảy ra ở Việt Nam 2 triệu người đã chết đói (trang 127). Tác giả cũng cho biết, trong cuốn lịch sử bậc trung học cơ sở của Nhật Bản do Nihon Shoseki xuất bản (phát hành năm 1993), phần về chiến tranh Thái Bình Dương cũng ghi nhận 2 triệu người Việt Nam chết đói.

Theo Giáo sư Yoshizawa Minami trong cuốn sách Chiến tranh châu Á trong tiềm thức của chúng ta, trang 2 thì: “Năm 1959, Chính phủ Nhật Bản trong việc đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm về việc bồi thường chiến tranh đã đưa ra một đề án để trình Quốc hội Nhật Bản trong đó có đoạn viết: “Sở dĩ có tình hình đặc biệt ở khu vực Việt Nam là do sự có mặt thường xuyên của khoảng trên dưới 8 vạn quân ta và vai trò của 20 vạn lực lượng hậu cần đối với khu vực phía Nam. Do đó tình hình kinh tế ở đây hỗn loạn đến cực độ…

Thêm vào đó, bước vào năm Thiên Hòa thứ 20, dự đoán đã có tới 30 vạn người chết đói vì trưng thu khá nhiều vật tư. Chính phủ Việt Nam (tức chính quyền Ngô Đình Diệm) tính con số đó là 1.000.000 người.

Ở Nhật Bản, có một số người phản đối Hiệp định bồi thường vì lý do chính trị đã tính số người chết đói ở vùng Bắc Bộ là 2.000.000 người.

Có lẽ hai con số đó có phần khuếch đại. Nếu tính cả những người thiếu dinh dưỡng trước lúc chết đói thì cũng có thể đạt tới con số như vậy. Ngoài ra, trong đó hàng vạn công nhân bị lao động cưỡng bức, chúng ta cũng không khó khăn gì mà có thể thấy được có khá nhiều người chết”.

GS Văn Tạo lập luận: “Nếu chỉ vì do thiếu dinh dưỡng hay bị cưỡng bức lao động khiến bị kiệt sức mà chết thì trong suốt hơn 80 năm thực dân Pháp thống trị, tình trạng trên vẫn thường xuyên xảy ra nhưng có bao giờ bị chết hàng triệu người trong một thời gian ngắn như vậy không? Còn nạn mất mùa năm 1944 là có thật. Nhưng nếu được đưa gạo từ miền Nam ra và không bị phát xít Nhật cướp đi thì không thể có nạn đói như vậy được” (trang 21 Nạn đói năm 1945-Những chứng tích lịch sử).

Cũng theo ông: “Chính quyền Ngô Đình Diệm không thể là đại diện chân chính cho nhân dân Việt Nam để nhận bồi thường được. Đấy là chưa nói về pháp lý đơn thuần thì nạn đói xảy ra ở miền Bắc chứ không phải ở miền Nam Việt Nam. Còn về khoản bồi thường, một nhà sử học Nhật Bản đã nói ở ngoài lề Hội thảo khoa học Hòa Bình châu Á và vai trò của Nhật Bản…tổ chức vào tháng 12/1992 ở Tokyo rằng khoản bồi thường quá ít ỏi, chỉ đủ mở một bữa tiệc khoản đãi nhau là hết.

Thực tế, như trong cuốn Chiến tranh châu Á trong tiềm thức của chúng ta, Giáo sư Yoshizawa Minami đã viết: “Khoản tiền bồi thường mà Chính phủ Nhật Bản đã đi đến thỏa thuận cuối cùng với chính quyền Ngô Đình Diệm là 39 triệu đô la (14 tỉ 40 triệu yên).

Nhưng vấn đề cốt lõi mà giới sử học hai nước Việt-Nhật quan tâm hơn cả không phải là vấn đề bồi thường, mà là chân lý lịch sử, tức là sự thật về nạn đói.Trong đó giả sử có khoảng một nửa (20 triệu đô la) là khoản bồi thường những thiệt hại về người chết đói theo tính toán của chính quyền Ngô Đình Diệm, mỗi người là 1.000 đô la thì Chính phủ Nhật Bản chỉ bồi thường cho 2 vạn người mà thôi”.

Người đàn bà không có quần áo mặc đang mò ốc 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

Còn theo GS Furuta Motoo phân tích: “Những con số đạt được trong suốt cuộc điều tra ở xã Tây Lương và thôn Lương Phú đã chỉ ra rằng tổng số người chết là 280.000 trên toàn tỉnh Thái Bình (hay 25% dân số) và 30.000 chết ở huyện Tiền Hải (30% dân số, được coi là huyện chịu nhiều thiệt hại nhất trong tỉnh Thái Bình) là thực sự có thể.

Tuy nhiên, vì cuộc điều tra không kiểm tra được mức độ điển hình của Lương Phúc đối với toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng nên rất tự nhiên là nó không thể có được những kết quả đáng thuyết phục về con số 2.000.000 người là nạn nhân của nạn đói năm 1945 ở Việt Nam”. Trích trang 225, Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam-Những chứng tích lịch sử.

Ngày 07/5/2012, ông đã có buổi thuyết trình về đề tài nạn đói năm 1945 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

Ông bảo, nhiều người Việt Nam biết đến sự kiện này và mức độ thảm họa của nó nhưng ở Nhật, trước khi cuốn sách “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử” được công bố rất ít người biết hoặc có biết cũng không nghĩ đến nó tàn khốc như thế, chết nhiều đến như thế.

Bằng phương pháp nghiên cứu thực chứng và tư liệu điều tra trên quy mô nhiều làng từ Quảng Trị trở ra Bắc so với dân số vào thời điểm năm 1945, đoàn đã đi đến kết luận nạn đói này tương đương với nạn đói cuối thế kỉ 18 tại Nhật.

Hiện nay ở Nhật dù vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về số lượng nạn nhân bị chết đói năm 1945 ở Việt Nam nhưng đại đa số các nhà khoa học quan tâm đến vấn đề này đều nhất trí rằng đó là một thảm họa, một số sách giáo khoa mới xuất bản cũng đã đề cập đến.

>> 75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 4 - Đói từ khắp nơi, đói về Hà Nội

>> 75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 3 - Một đại gia đình chết đói 60 người ở Nam Định

>> 75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 2 - Những chuyến xe chở xác ở chợ Xanh, Ninh Bình

>> 75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 1 - Nơi chết đói nhiều nhất miền Bắc

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

 

II. Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Lời xin lỗi còn nợ

Tác giả của hai bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng “Bão táp triều Trần” và “Tám triều vua Lý” đã trao đổi với PV về những ngày tháng bi thảm nhất trong lịch sử:  “…Việt Nam là một nước nông nghiệp, năm 1945 và trước đó lúa gạo xuất khẩu hàng triệu tấn/năm, có năm tới 3 triệu tấn. 

Nhà văn Hoàng Quốc Hải

Từ 1941 đến 1945 phát xít Nhật chiếm đóng nước ta nhưng vẫn thao túng cho chính quyền thực dân Pháp cai trị, dân ta một cổ hai tròng, vừa nộp thuế cho Pháp vừa nộp thóc cho Nhật...không có cách gì để chống lại nên chết đói. Điều nhục nhã cho lương tâm con người là bọn thống trị Pháp không hề có một hành động nào để cứu trợ xã hội. 

Một đất nước nông nghiệp trù phú như vậy mà 2,5 triệu người chết vì đói. Nên nhớ năm 1945 cả nước ta chỉ có 22 triệu dân, vậy là hơn 1/10 dân số chết đói. Lịch sử khoảng 500 năm trở lại đây chưa bao giờ xảy ra một cái hoạ mang tính diệt chủng đến như thế. Vậy mà cho tới nay, Pháp không xin lỗi, Nhật không xin lỗi đó là điều sỉ nhục đối với các nước văn minh.

Theo tôi thứ nhất lúc này nên có một đài tưởng niệm và nên có một chương trình bố cáo rộng rãi cho toàn dân được biết. Chúng ta phải cường thịnh, tự cường lên, không cho kẻ nào có thể xâm chiếm và đặt nền thống trị nước ta. Thứ hai là tuyệt đối không để xảy ra nạn đói như thế nữa. Muốn như thế phải bảo vệ đất đai chứ không thể sử dụng một cách lãng phí.

Hiện nay, có những ngôi chùa chiếm đến vài chục ha, vài nghìn ha, thậm chí tới 5.500 ha, đó là một điều không thể chấp nhận được. Ấy là chưa nói đến các hiểm họa tâm linh mù quáng do sinh hoạt tâm linh sai lệch đem lại cho xã hội. Nước ta hiện giờ bình quân ruộng đất chưa được 300 mét vuông/người, đất rất hẹp vậy mà sử dụng như thế thì nguy cơ không bảo đảm lương thực được”.

HOÀNG QUỐC TUẤN

 

III. Một tượng đài là trách nhiệm với quá khứ lẫn tương lai

GS sử học Văn Tạo sinh thời đã có đề xuất dựng tượng đài tưởng nhớ đồng bào chết đói năm Ất Dậu.
 

Trông người lại ngẫm đến ta

Ông viết: Tôi có dịp đi dự một hội nghị khoa học ở Linz (Áo). Tại thành phố này tôi đã cùng nhiều du khách trầm lặng đứng trước Đài tưởng niệm những nạn nhân đã chết do bệnh dịch hạch gây ra từ thời trung thế kỷ. Đứng trước tượng đài ở xứ người này, tôi không khỏi chạnh lòng nghĩ tới một đại họa mà dân tộc Việt Nam đã từng chịu đựng cách nay đã hơn nửa thế kỷ: Nạn đói năm Ất Dậu.

GS sử học Văn Tạo

GS Văn Tạo cũng nhắc đến nước Nhật có Khu tưởng niệm hòa bình Hirosima còn Việt Nam chưa có nơi nào tưởng niệm ngoài nghĩa trang Hợp Thiện nhỏ bé. Nguyện vọng của Viện trưởng Viện Sử học là xây đài tưởng niệm để nhìn lại cuộc sống đủ đầy hôm nay, việc làm đó cũng là cách ứng xử nhân văn, tử tế của người sống với đồng bào đã chết đói.

“Tôi nghĩ rằng nếu có một tượng đài về sự kiện này thì không chỉ làm trọn cái nghĩa với đồng bào của mình là nạn nhân của chủ nghĩa phát xít mà cũng là cách bày tỏ ý chí của dân tộc ta cùng nhân loại quyết ngăn không để chủ nghĩa phát xít ngóc đầu dậy…Không biết bao nhiêu những bằng chứng mà đến nay nhắc lại có khi thế hệ trẻ không hiểu nổi và không tin (đói đến mức phải ăn xác súc vật chết, mót từng hạt ngô sót trong phân ngựa của lính Nhật)… Xin cứ so sánh, nạn đói diễn ra “cao trào” trong 6 tháng, cướp đi 2 triệu sinh mạng, gấp nhiều lần những nạn nhân của 2 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hisrosima và Nagazaki của Nhật”.
 

Ai sẽ trao truyền ký ức cho đời sau?

Trong chương trình trung học phổ thông, duy nhất bài số 16, sách giáo khoa lớp 12 có 2 dòng đề cập nạn đói năm 1945: “Chính sách vơ vét, bóc lột của Pháp - Nhật đã đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực. Hậu quả là cuối năm 1944 - đầu năm 1945, có gần 2 triệu đồng bào ta chết đói”.“Chẳng bao lâu nữa, nhất là khi cuộc sống chúng ta no đủ hơn, sung túc hơn, ai là người sẽ trao truyền lại những ký ức ấy cho muôn đời sau?”.

Ông Dương Trung Quốc-Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đặt câu hỏi. “Tôi muốn nhắc với các nhà lãnh đạo Hà Nội rằng, chính tại khu vực Quỳnh Lôi (khuôn viên nghĩa trang cũ của Hội Hợp Thiện cũ), nhân dân Hà Nội đã từng bảo nhau quy tập xương cốt của những người chết đói và chết vì chiến tranh xây dựng ngôi mộ lớn, đắp nổi dòng chữ lớn: “Nơi an giấc ngàn năm của đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói năm 1944-1945”. Vậy mà cơn sốt đất đai và “công cuộc đô thị hóa” của Thủ đô chúng ta đã gần như hủy hoại hết rồi. Do vậy, một tượng đài ghi nhận sự kiện này phải được coi là một trách nhiệm không phải chỉ đối với quá khứ mà cả với tương lai”. 

Nhà sử học Dương Trung Quốc

KHẢI MÔNG

 

Chính phủ Trần Trọng Kim tiếp tay cho nạn đói 1945

Báo Tin Mới, ngày 12/6/1945, đăng ngay trang nhất cho biết chính sách của Chính phủ Trần Trọng Kim đối với nạn đói năm Ất Dậu 1945 như sau: “Theo chế độ mới về thóc gạo: Các tư gia chỉ được trữ một số gạo đủ dùng trong 2 tháng…Nay đến lượt các điền chủ phải hưởng ứng tiếng gọi của nhà cầm quyền, để tỏ ra rằng ai nấy đều hiểu bổn phận. Không lúc nào bằng lúc này, tư lợi và lòng ích kỷ phải dẹp lại, để lợi chung của quốc dân được đặt lên trên.

Ít nhất, chẳng lẽ chúng ta lại không hợp tác được với các nhà đương chức Nhật như các người Pháp ngày trước hay sao? Vậy thời cái bổn phận nhà nông của ta là phải tỏ ra rằng mình biết trọng kỷ luật và mình có một tinh thần ái quốc sáng suốt, để cho các nhà chức trách của ta làm việc được dễ dàng.

Vả lại ta nên nhớ rằng số thóc gạo mà nhà cầm quyền sẽ mua, không những sẽ đem dùng vào việc tiếp tế cho quân đội, mà còn để phân phát, được chừng nào hay chừng ấy, cho các đoàn thể và các sở, như là các nhà thương, hoặc các đề lao, và nhất là để có thể trữ sẵn một số cho dân ăn vào kỳ giáp hạt...

Tự nay giở đi, ngoài Nhà nước ra không ai có quyền đong nhiều thóc của các nhà sản xuất. Vả lại, có ích gì mà đong nhiều? Chỉ có nhà nông mới có quyền tích trữ; còn các nhà buôn bán, các tư gia chỉ được giữ trong nhà một số gạo đủ ăn trong 2 tháng là cùng”.

KHẢI MÔNG

GS.TS Phạm Hồng Tung (ảnh) – Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển – ĐHQGHN: Nạn đói 1945 luôn nhắc nhở chúng ta về an ninh lương thực

Nạn đói năm 1945 nhắc chúng ta luôn luôn phải suy nghĩ đến an toàn lương thực tối thiểu cho đất nước. Vùng châu thổ sông Hồng từ lâu đã trở thành nơi “đất chật, người đông”, hệ số an toàn lương thực rất thấp, việc xảy ra nạn đói khá thường xuyên.

"Tháng Tám đói qua, tháng ba đói chết” là ký ức được lưu truyền qua nhiều thế hệ người dân ở đây về những ngày tháng giáp hạt. Vì vậy, trước đây các làng xã đã xây dựng kho thóc dự trữ, gọi là “Nghĩa sương” hay “Nghĩa thương” để cứu đói.

Còn bây giờ ở các tỉnh “vựa lúa” người ta đang chuyển đổi bờ xôi ruộng mật sang thành các khu chế xuất thì nguy cơ an ninh lương thực bị đe dọa bởi nạn đói là hoàn toàn có thể xảy ra.

Cần nhớ rằng qũy đất nông nghiệp là một nguồn tài nguyên đặc biệt, một khi đã chuyển đổi thành khu công nghiệp, khu chế xuất, tức là đã mất đi vĩnh viễn, không bao giờ tái sinh được nữa. Cho nên phải có tượng đài kỷ niệm nạn đói Ất Dậu 1945 để nhắc nhớ các nhà hoạch định chính sách và toàn dân về vấn đề đảm bảo an toàn lương thực.

Thứ hai nữa là kỷ niệm nạn đói năm Ất Dậu người ta đã làm từ trước rồi. Bây giờ chúng ta làm không có gì mới cả mà chỉ là tiếp nối một việc đã có từ trước.

Việc kỷ niệm nạn đói này với một biểu tượng cụ thể là nhắc đến một sự kiện lịch sử rất ý nghĩa trong thời điểm năm 1945. Bởi vì thông qua nạn đói này, với tất cả quy mô và mức độ thảm khốc của nó, với hiệu ứng vô cùng mạnh mẽ của nó, nó đã phơi bày bản chất và tội ác của chế độ quân chủ phong kiến, chế độ thực dân và ách chiếm đóng của quân đội Nhật. Do đó mà toàn dân Việt Nam từ Bắc tới Nam đã nhất tề đoàn kết cả quyết vùng lên: đấu tranh giải phóng cũng là cuộc chiến sinh tồn.

Chính trong bối cảnh đó, khẩu hiệu “phá kho thóc Nhật giải quyết nạn đói” đã thành mệnh lệnh khởi nghĩa. Đó là con đường đi tới thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.

KHẢI MÔNG (GHI)

Share Facebook Share Google Share Twitter

Bình luận

Gửi bình luận