Tái cơ cấu

Giống lúa chủ lực cho ĐBSCL: Lúa OM chịu phèn mặn

Cập nhật: 08:46, Thứ 5, 18/07/2019

Ở vùng trồng lúa Nam bộ, tùy theo điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn đã định hình các tiểu vùng SX, bố trí cơ cấu giống lúa thích nghi.

Nhưng từ nhiều năm qua Viện Lúa ĐBSCL đã bắt tay nghiên cứu, chọn tạo nhiều giống lúa mới có khả năng chống chịu điều kiện thời tiết bất lợi hạn, mặn và nhất là tăng khả năng thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH).
 

OM - khắc tinh vùng nhiễm mặn

Hiện nay Bộ giống lúa OM của Viện Lúa ĐBSCL được phân bố trong khắp các tiểu vùng SX ở ĐBSCL và miền Đông Nam bộ. Tùy theo tiểu vùng sinh thái các địa phương sẽ cho lựa cơ cấu giống phù hợp.

Ươm mạ non giống lúa OM ở Viện lúa ĐBSCL. Ảnh: VL.

Vụ ĐX 2018-2019 cơ cấu giống lúa được đề xuất cho từng tiểu vùng sinh thái như sau: Vùng ĐBSCL phân ra vùng Tây sông Hậu và Tứ giác Long Xuyên ưu tiên sử dụng các giống lúa có khả năng thâm canh cao, chất lượng khá - tốt như: OM 4900, OM 7347, OM 6976, OM 4218, OM 5451... và một số giống lúa khác.

Vùng Đồng Tháp Mười ưu tiên áp dụng giống lúa cực ngắn ngày, chịu phèn mặn trung bình – khá như: OM 6976, OM 4218, OM 4900, OM 5451... và một số giống lúa khác.

Vùng phù sa ngọt dọc sông Tiền, sông Hậu ưu tiên sử dụng các giống lúa cao sản chất lượng cao như: OM 4900, OM 6976, OM 4218, OM 5451... và các giống lúa khác.

Vùng ven biển Nam Bộ ưu tiên áp dụng giống ngắn ngày, chịu được điều kiện khó khăn như: OM 4900, OM 6976, OM 5451... và các giống lúa thích nghi khác.

Riêng vùng Đông Nam Bộ có giống chủ lực OM 4900, OM 6976, OM 5451 và một vài giống lúa khác.

Viện Lúa đã có một số giống lúa chịu mặn. Trong đó đa số là giống cải tiến ngắn ngày như OM6976, OM5451, OM9921, OM5621, OM6677... chỉ chịu được mặn ở mức độ trung bình – khá từ 2-3‰; khi độ mặn từ 4‰ trở nên năng suất giảm, không đạt hiệu quả kinh tế. Các giống lúa chịu mặn ở mức độ khá hơn, khoảng 4‰ như OM2517, OM9577, OM5464... nhưng không vượt được ngưỡng trên 5‰.

Theo Cục Trồng trọt, hiện chưa có giống lúa cải tiến ngắn ngày chịu được mức độ mặn ở mức trên 5‰ mà vẫn cho năng suất ở mức đảm bảo có hiệu quả kinh tế. Với mức độ xâm nhập mặn như hiện nay, việc chỉ sử dụng giống lúa chống chịu mặn là chưa đủ và hiệu quả. Nên sử dụng giống lúa cực ngắn ngày, chịu mặn ở mức khá, kết hợp với bố trí thời vụ để né mặn đỉnh cao giai đoạn trỗ bông.
 

Chuẩn giống OM

Bên cạnh công tác nghiên cứu khoa học chọn tạo giống lúa, Viện Lúa ĐBSCL còn nhận nhiệm vụ đào tạo cán bộ kỹ thuật và nông dân SX giống; tổ chức SX và cung cấp giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng phục vụ cho công tác nhân giống ở các địa phương; SX giống xác nhận để cung ứng cho nông dân trong vùng. Với cơ sở hạ tầng phục vụ SX và chế biến giống được đầu tư tương đối tốt, hàng năm Viện đã tổ chức SX và cung cấp từ 12-15 tấn giống gốc, 45-50 tấn siêu nguyên chủng, 550-600 tấn nguyên chủng và SX cung ứng giống xác nhận theo yêu cầu của các địa phương.

Giống lúa chịu phèn mặn OM2517. Ảnh: .

Viện Lúa ĐBSCL hiện có 24 giống lúa đã đăng ký quyền bảo hộ tác giả. Nhằm cung cấp giống lúa chất lượng tốt nhất đến nông dân SX đảm bảo hiệu quả, Viện lúa áp dụng chỉ tiêu chất lượng giống cấp nguyên chủng theo quy chuẩn: QCVN 51-54:2011/ BNNPTNT với độ thuần ≥ 99,9%, độ sạch ≥ 99,0%, hạt cỏ dại ≤ 5 hạt//kg, tỷ lệ hạt nảy mầm ≥ 80%, độ ẩm ≤ 13,5%.

Theo xu thế nông dân chọn giống lúa cấp xác nhận đưa vào SX nâng cao hiệu quả lúa gạo, nhất là các HTX, tổ hợp tác SX trên cánh đồng mẫu lớn đã góp phần nâng cao tỷ lệ sử dụng giống lúa OM cấp xác nhận từ trên 50-80% tùy theo mỗi địa phương. Tuy nhiên theo nhận xét của nhiều cán bộ nông nghiệp các tỉnh vùng ĐBSCL, trong các giống lúa OM, nhất là các giống lúa mới có tính chống chịu ở vùng phèn hay vùng nhiễm mặn đưa vào SX chứng minh được tính ổn định, đạt năng suất khá cao và phẩm chất gạo ngon cơm, không có độ chênh lệch khác biết lớn so với những tiểu vùng sinh thái khác.

+ Giống OM 6976 có nguồn gốc từ tổ hợp lai IR68144/OM9997//OM2718///OM2868. Tính trạng nông học: Thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, chiều cao cây (cm) 95-100, đẻ nhánh khá, dạng hình đẹp, cứng cây, bông chùm, số hạt chắc/bông 150-250, khối lượng 1.000 hạt 25-26g, Năng suất 6,0-9,0 tấn/ha. Tính trạng phẩm chất: Hạt gạo dài trung bình, trong, ít bạc bụng, hàm lượng amylose 24-25%, hàm lượng sắt cao 6,9- 7,0mg/kg. Tính chống chịu: Chống chịu rầy nâu cấp 2-3, chống chịu đạo ôn cấp 5. Tính thích nghi: Thích nghi với các vùng sinh thái và các vụ trong năm.

+ Giống OM 2517 có nguồn gốc từ tổ hợp lai OM1325/OMCS94. Thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, chiều cao cây (cm) 90-100. đẻ nhánh khá, dạng hình đẹp, số hạt chắc/bông 130, khối lượng 1.000 hạt 26-28g, năng suất 6,0-8,0 tấn/ha. Tính trạng phẩm chất: Hạt gạo thon dài, trong, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, hàm lượng amylose 24-25%, cơm ngon, dẻo, tỉ lệ gạo nguyên cao. Tính chống chịu: Chống chịu rầy nâu cấp 5, chống chịu đạo ôn cấp 5. Tính thích nghi: Thích nghi với các vùng sinh thái và các vụ trong năm. Chống chịu phèn mặn tốt.

+ Giống OM 9577 có nguồn gốc từ tổ hợp lai OM6976/OM5472. Thời gian sinh trưởng 102-107 ngày, cao cây (cm) 95-105. Đẻ nhánh khỏe, dạng hình đẹp, cứng cây, lá xanh khi chín, số hạt chắc/bông 80-90, khối lượng 1.000 hạt 27,5-28,5g, năng năng suất 7-8 tấn/ha vụ Đông Xuân; 5-6 tấn/ha vụ Hè Thu. Tính trạng phẩm chất: Gạo trắng đục hạt lựu, không bạc bụng, cơm mềm dẻo, hàm lượng amylose (%) 24-25, chiều dài hạt (mm) 7,15-7,17. Tỷ lệ gạo nguyên (%) 46-48, có mùi thơm, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Tính chống chịu: Kháng rầy nâu trung bình và nhiễm nhẹ đạo ôn. Tính thích nghi: Chịu mặn tốt, canh tác được các vụ trong năm.

HỮU ĐỨC

Share Facebook Share Google Share Twitter

Bình luận

Gửi bình luận