Khoa học - Công nghệ

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:

'Vua giống' dưới góc nhìn của người con trai

Cập nhật: 06:45, Thứ 6, 17/05/2019

Người ta chỉ biết đến “vua giống” với hơn 20 giống lúa được công nhận quốc gia, phổ biến ra hàng trăm ngàn ha khắp cả nước mà không biết gia đình phải hi sinh thế nào để cho ông toàn tâm làm khoa học…

Đây là góc nhìn từ người con trai ông, TS Tạ Minh Trường hiện công tác tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

TS Tạ Minh Trường kể chuyện về người bố của mình.

Được tin ông trở bệnh, đang nằm điều trị ở Bệnh viện Nội tiết TW, tôi vào thăm. Căn phòng nhỏ kê 9 cái giường từ khi có ông bỗng nhiên vui hẳn. Bệnh nhân gồm nhiều vùng miền, chủ yếu là nông dân nên lúc rảnh rỗi họ thường kể chuyện nghề, chuyện đời.

Phải tới khi tôi đến, mọi người mới biết ông già nhỏ bé 75 tuổi vẫn thường hay trò chuyện cùng mình hóa ra là Anh hùng Lao động Tạ Minh Sơn, tác giả của những giống lúa nổi tiếng suốt mấy chục năm nay: “Ô hóa ra bác là tác giả của giống Xi dẻo chúng em vẫn cấy, vẫn ăn hàng ngày à”?.

Tôi hỏi nếu chỉ có một mong muốn, ông sẽ ước gì? Ông cười và bảo rằng suốt ngày chỉ ngong ngóng những cuộc điện thoại từ khắp nơi báo tin về các dòng, các giống của mình đang tiến triển đến đâu, nhất là “đứa con cưng” CXT30.

Không dám trò chuyện lâu vì sợ ông mệt, tôi kéo TS Tạ Minh Trường - con trai ông ra về và nghe anh kể những góc rất đời thường về một nhà khoa học phi thường…

 

Bố tôi xuất thân từ thành phần nông dân trong một gia đình đông con 5 anh em. Lúc đang học lớp 6, năm 1960, ông nghe thầy Vấn giảng về học thuyết Mitsurin trong lai ghép tạo nên làm thử một phép lai thí nghiệm ghép chanh với bưởi, quả rất to nhưng cũng rất chua thành ra cũng chẳng ai trồng.

Tuy sản phẩm đầu tay chưa hoàn thiện nhưng ông vẫn rất thích thú nên mượn bằng được một cái máy ảnh - của hiếm những năm 60 thế kỷ trước - để chụp lại một bức đen trắng đặc tả một cành quả “banh”, tên ghép vui giữa chanh và bưởi.

Bức ảnh này sau mấy chục năm giờ ông vẫn còn giữ với mấy dòng chữ mộc mạc đề bên dưới rằng: “Say mê khoa học thủa trăng rằm. Trái chín trĩu cành mọi người thăm…”.

Ông Tạ Minh Sơn: “Quả bưởi ghép với chanh nó to bằng từng này”.

Từ đó trong ông nhen nhóm lên ý tưởng sau này phải nghiên cứu nông nghiệp. Học xong trung cấp nông nghiệp, ông xin vào Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam.

Với bằng cấp đó chỉ làm được thủ kho, chuyên sắp xếp các vật tư nông nghiệp khi nhập vào để lúc xuất ra sao cho thuận tiện nhưng ông vẫn chấp nhận để có được cơ hội làm việc tại một viện nghiên cứu khoa học nông nghiệp đầu nghành.

Quả bưởi ghép với chanh - sản phẩm đầu tay của ông Sơn hồi đang học cấp hai.

Quá trình sắp xếp vật tư khiến ông càng say mê với nông nghiệp nên xin đi học tại chức đại học rồi học lên phó tiến sĩ, tiến sĩ và được phong hàm phó giáo sư, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam.

 

Để đạt được những thành công trên, ngoài sự cố gắng vượt bậc của bản thân ông, đằng sau đó còn có sự hỗ trợ đóng góp của gia đình. Năm 1974, khi đẻ tôi ra mẹ đã bị bệnh, phải uống thuốc an thần bởi vì thiếu thốn tình cảm.

Hồi đó vẫn còn chiến tranh, bố tôi ở cùng đơn vị tại Hà Nội còn mẹ con tôi lại phải đi sơ tán ở tận tỉnh miền núi Tuyên Quang. Mẹ là giáo viên, trước tôi, bà có sảy thai một lần nên cũng ảnh hưởng đến tâm lý. Vợ chồng xa nhau, thứ nhất là kinh tế khó khăn, thứ hai là thiếu thốn tình cảm lại phải một mình chăm con nên bà suy nghĩ nhiều.

Tôi không nhớ là bao lâu bố mới về thăm nhà một lần mà chỉ nhớ rằng mỗi lần như vậy mẹ rất vui song lại buồn khổ khi chồng ra đi, để lại hai mẹ con tự lo giữa một nơi rất cách biệt.

Ông Tạ Minh Sơn bên giường bệnh mà vẫn vui tươi.

Hơn nữa mẹ tôi khi đó còn trẻ, tâm sinh lý do không được gần chồng nên mới đầu thì mất ngủ sau đó tiến triển thành bệnh thần kinh. Hồi còn nhỏ quá thì tôi chưa nhớ nổi nhưng sau này biết rồi thì nhớ có lần bà lâm bệnh nặng phải vào bệnh viện tâm thần dưới Hà Nội để điều trị.

Mẹ bị bệnh, 3 tuổi tôi được gửi về cho ông bà ngoại ở Thái Nguyên nuôi một thời gian rồi lại gửi về cho ông bà nội ở Thái Bình nuôi một thời gian, cuối cùng chuyển về khu tập thể của Viện ở với bố.

Khi mẹ tôi đỡ bệnh, bố xin chuyển bà về làm tại cơ quan mình để vợ chồng được thêm gần gũi. Trước mẹ tôi dạy hóa nên về làm phòng Hóa đất. Ông ngoại, bà ngoại tôi trước đó cũng đều làm ở Viện cả. Sau khi sinh tôi mãi đến năm 1982 mẹ mới sinh thêm em trai.

Ông Trần Văn Chiến - đồng nghiệp ở Trung tâm lúa: “Dù đã về hưu rồi nhưng ông Sơn thỉnh thoảng vẫn lấy xe riêng cùng với con trai đi xuyên Bắc - Nam để thăm các giống lúa. Đến bữa hai bố con tự nấu ăn, tối đến tự tìm chỗ nghỉ. Chân tay của ông ít khi nào chịu ngồi yên trong văn phòng mà toàn tìm cách để ra ngoài đồng ruộng”

Bố tôi là người lạc quan, hết lòng vì công việc và cũng hết lòng vì gia đình. Trong quá trình công tác ông đã đảm nhiệm rất nhiều các vị trí, chức vụ khác nhau và công việc cứ cuốn ông đi. Những đợt công tác miền Trung kéo dài 15 - 30 ngày, còn nếu ở Hà Nội vẫn cứ đi suốt ngoài đồng ruộng, 7h sáng đi, 7h tối mới về, ít khi có thứ bảy chủ nhật vì bận cả quản lý lẫn chuyên môn.

Về nhà rồi mà đầu óc của ông vẫn để ở ngoài đồng ruộng. Không yên tâm với việc phơi thóc giống ở cơ quan nên ông mang về treo, phơi trong nhà, bảo vợ con lưu giữ giúp.

Về nhà rồi mà ông vẫn tranh thủ đọc báo cáo khoa học vì không đủ thời gian đọc khi ở cơ quan. Ông lội ruộng không kể nắng mưa, đói mệt. Có đợt quá trưa rồi quên cả bữa ông vẫn lăn lộn ngoài ruộng nên ngã luôn xuống, cô Hợp là công nhân trong nhóm phải dìu về.

Thỉnh thoảng mẹ tôi phải nằm chữa trị ở bệnh viện, cuối tuần bố con lại mang cặp lồng cơm vào thăm. Bố tôi lạc quan đến mức thế này, có lần sau khi vào viện thăm vợ ông mang cả cặp lồng cơm rỗng đi xem ca nhạc để giải tỏa bớt sự căng thẳng. Ông bảo: “Người khỏe phải lạc quan lên chứ không ốm theo người bệnh thì khốn”…

Trong viện phân theo khu. Khu của mẹ tôi nằm cũng nhẹ, không phải xích, trói gì. Nếu không nói là bà bị bệnh có lẽ cũng không ai biết. Có lẽ do trước đây kinh tế quá khó khăn nên bệnh của bà mới nặng, còn về sau này có đỡ hơn.

Bà được chữa trị bằng cả tâm lý lẫn thuốc, ổn định lại được ra viện nhưng vẫn phải uống thuốc. Những viên thuốc an thần theo mẹ đến tận khi bà mất năm 2002 bởi dùng thuốc quá nhiều, nội tạng bị phá hủy, người phù lên...

 

Về phần tôi nhớ có lần đang học lớp 3, lớp 4 gì đấy, bố đi học ở Viện Lúa quốc tế tại Philippines có mang về những tài liệu chuyên môn rất quý do chính ông chép tay (hồi đó chưa có máy photo) nhưng tôi lại đem gập máy bay, phi tứ tung cả. Khi biết chuyện ông rất giận, đi gom lại từng tờ một… Hồi đấy thú thực tôi cũng chỉ học lớt phớt thôi, theo sự chỉ dẫn của ông đăng ký vào khoa Sinh - Đại học Tổng hợp vì nghĩ học ngành đó ra dễ xin việc.

Tốt nghiệp năm 1995, năm 1996 tôi đi làm ở Viện theo dạng hợp đồng, trong Trung tâm lúa do chính ông làm Giám đốc kiêm Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam.

Ông muốn tôi tiếp nối sự nghiệp của mình nên nhắn nhủ: “Con làm ở đây phải cần cù, chăm chỉ, yêu và sát với đồng ruộng”. Ông có đến hàng mấy trăm dòng lúa, nửa gửi vào kho lạnh đề phòng rủi ro mất mát còn có cái nghiên cứu tiếp, nửa giao lại cho tôi để chỉ dạy, hướng dẫn gieo trồng.


Ông Tạ Minh Sơn đang kiểm tra giống ngoài đồng ruộng (Ảnh tư liệu)

Tuy nhiên, hồi đó tôi là thanh niên vẫn ham vui. Và kể cả bố truyền cho con nhưng mỗi người có một thứ trời phú riêng, một say mê riêng, cái đó không truyền được. Người muốn truyền cảm hứng nhưng người nhận cảm hứng cũng phải có trình độ và sự say mê tương tự mới có thể tiếp nối.

Tôi chắc chỉ có được cỡ vài phần trăm sự say mê của bố vì mỗi một dòng, một giống lúa ông đều rất quý trọng. Theo tôi, sự khác biệt này là bởi khởi điểm thời thanh niên của ông khác hẳn của tôi. Ngày xưa của ông đói ăn, có gì đó luôn thôi thúc phải học để vượt nghèo, để vươn lên, để làm một cái gì đó khẳng định được mình và đóng góp cho xã hội.

Ông Lê Quốc Thanh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam: “Bản chất ông Tạ Minh Sơn là người lao động thực sự quên mình, đam mê nghiên cứu. Hễ đi công tác là trên xe ô tô luôn có ủng, có nón, có gậy để sẵn sàng thăm đồng hay leo đồi và nồi niêu xoong chảo để có thể ăn ngủ tại bất cứ đâu. Thậm chí có không ít lần, đến nơi trời đã nhá nhem tối vẫn bảo lái xe rọi đèn pha để mình lội xuống thăm giống”.

Còn tôi, khi lớn lên trong điều kiện đầy đủ hơn lại nghĩ có việc làm là ổn rồi, không phải làm để giải quyết vấn đề đói, không phải làm để giải quyết vấn đề được thanh danh.

Người chọn giống giỏi phải có tư duy sắc bén và con mắt tinh tường. Khi trồng một cây có thể mường tượng ra sự phát triển tiềm năng trên cả một cánh đồng lớn chứ nhìn một cây chỉ biết đó là một cây là hỏng.

Tôi chưa có con mắt ấy nên khi chọn tạo, cứ rút những cây cao ngồng lên, có bông rất to nhưng ông lắc đầu bảo: “Con phải chọn những cây thấp thấp, bằng đều nhau và bông phải đều thì đưa ra sản xuất mới ổn định được. Chọn những bông nổi trội thì vụ sau là phân ly, cây cao, cây thấp ngay”.

Ông giảng cho tôi bằng cách cầm tay, chỉ việc kiểu như: “Cây bông phải như thế này, cổ bông phải như thế này, hạt phải xếp xít như thế này…”.

Ông hướng dẫn chọn dòng, gieo như thế nào, thu thập số liệu ra sao, khi thu hoạch lại cất vào kho bảo quản chống chuột bọ cẩn thận… Tôi nghe nhưng không ngấm được vào đầu mấy bởi sự khác nhau giữa hai người.

Hình như ông có một giác quan thứ sáu về giống mà tôi lại không có. Một bông lúa nếu tôi thu về chẳng may bị thất lạc hay không ghi rõ lý lịch là ông cáu liền.

TS Tạ Minh Sơn rất nghiêm khắc, làm đâu ngăn nắp đấy

Ông rất nghiêm khắc, làm đâu ngăn nắp đấy, ghi chép sổ sách đàng hoàng nhưng tôi thường lại khá lộn xộn. Đi thăm đồng, ông hướng dẫn ngày hôm nay dòng này trỗ, ngày mai dòng kia trỗ, rất tỉ mỉ và phải thật chuyên tâm mới tiếp thu được. Tôi lúc đó mới ra trường, làm cho có việc thôi chứ không được say mê, không có cái tâm như của ông.

 

Hồi làm Giám đốc Trung tâm lúa, ông thấy điều kiện cơ sở kỹ thuật phục vụ nghiên cứu còn thiếu nên luôn mong làm được những nhà lưới, nhà kính quy mô.

Bởi thế đôi khi ông đã quyết định sử dụng một phần lợi nhuận trong kinh doanh của cơ quan để dự trữ cho cái chung, để phát triển về lâu, về dài. 

Điều đó tốt nhưng một số người không bằng lòng. Năm 2012 tôi đi học thạc sĩ ở nước ngoài và chuyển vào Nam Trung bộ làm. Ông cũng thường vào trong đó bởi vì vừa làm lãnh đạo Viện ngoài này vừa kiêm luôn Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ.

Khi đã nghỉ hưu rồi, ở nhà buồn nên thỉnh thoảng ông vẫn bảo tôi: “Cuối tuần, con chở bố xuống cơ quan xem đồng ruộng một tí, ngó các dòng, cách chọn đã được chưa nhé”.

Nhưng tôi thấy sức khỏe của ông yếu, nhất là 2 năm gần đây bị tiểu đường nặng, thường xuyên nhập viện, trước đó, cũng bị bệnh thần kinh tọa, phải đi “chấm phẩy”. 

Bởi thế tôi đồng ý bằng cách hứa nhưng kiểu để cho quên: “Được rồi, hôm nào mát mát, rảnh rảnh con cho bố xuống”.

Nhưng ông cứ nhắc đi, nhắc lại nên đành phải đưa xuống, tuy nhiên ngăn không cho lội ruộng mà chỉ đi trên bờ bê tông. Lắm lúc tôi không ở nhà nhưng ông vẫn tự đi xe xuống thăm ruộng.

Năm nay thì ông yếu hẳn, nằm nhiều. Vợ đã mất, con trai thứ đã mất còn con dâu, cháu nội lại đang sống ở nước ngoài nên hai bố con tôi sống với nhau trong một căn hộ. Vừa rồi tôi sang Úc thăm vợ con cũng phải kéo ông đi cùng bởi để một mình không yên tâm.

Về nhà được 2 ngày thì ông lại vào viện. Vào đây để điều trị là một phần còn một phần bởi tôi đi làm, nếu để ông ở nhà thì bởi chân đau, ít đi lại nên chỉ nằm, lại ăn uống không điều độ nên càng khiến bệnh có thể trở nặng.

Sản phẩm đầu tay của ông là giống X1, năm 1975 được tặng bằng sáng chế đầu tiên của đất nước mang số 001 với những tính trạng nổi trội như ngắn ngày, năng suất cao, chống bạc lá. Chữ X trước tên giống là viết tắt của từ Xanthomonas Campestris, tức bệnh bạc lá vi khuẩn.

Để nghiên cứu về bệnh này ông đã đi khắp Bắc, Trung, Nam thu thập, phân lập các nòi vi khuẩn, lây bệnh nhân tạo rồi tạo ra các giống lúa kháng. Dòng X đến nay đã tới số 30 trong đó có 5 giống được khu vực hóa, 5 giống được công nhận quốc gia.

Nổi tiếng nhất có lẽ là X21 được sáng tạo dựa trên sự trộn lẫn 2 dòng có sức chống chịu bạc lá khác nhau, phổ thích nghi rộng, cơm khá, năng suất ở Việt Nam đạt cỡ 9 - 10 tấn/ha, ở Iraq còn hơn thế. Đây là giống có công sức của cả vợ ông khi bà tham gia vào chọn lọc.

Xi 23 là giống chọn lọc cá thể từ nguồn vật liệu của Viện Lúa quốc tế, vừa chống chịu giỏi vừa chất lượng tốt mà dân quen gọi là Xi dẻo. Giống này có thêm công sức của người con trai… Hàng ngàn dòng giống lúa mới của ông đang được lưu giữ ở các đơn vị nghiên cứu trong nước.

Vì những đóng góp không mệt mỏi cho cả nền khoa học Việt Nam và thế giới, năm 2006 ông đã được nhận giải thưởng Hòa bình Quốc tế.

Dương Đình Tường (ghi)

Share Facebook Share Google Share Twitter

Bình luận

Gửi bình luận